Chông chênh tuổi 23.
Uh, vậy là đã ra trường được 1 năm. Hôm nay chia tay một chị trong phòng chuyển sang BIDV làm. Hỏi thăm mới biết chị được lên band 6, được lương cao gấp 2,5 ở TCB. Khâm phục chị lắm.
Đã 23 tuổi rồi mà tôi cảm giác như mình đang đứng giữa ngã tư đường trong bể đời rộng mênh mông.
Đang băn khoăn không biết có nên học tiếp cao học hay đi học lấy chứng chỉ nghề nghiệp.
Không biết liệu nên về quê hay ở lại đất Hà Nội, chật chội, bon chen, thỉnh thoảng vô tình này,
Không biết rồi cuộc đời tôi sẽ đi đâu, về đâu nhỉ
Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016
Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016
Không ngừng ước mơ.
hic. Hôm nay ngày 14/10 phòng mình nhận báo cáo kiểm soát sau. tên mình sáng nhất báo cáo, không hiểu do cẩu thả, hay do quá nhiều chứng từ làm mình không thể cover hết được các lỗi nữa. và cũng chắc do một phần là chán công việc. vì ngày nào cũng như ngày làm. đi làm như một con robot (mọi người hay nói đùa với nhau phòng mình là công nhân kế toán. Ừ kể ra cũng phải công việc chỉ có vậy thôi mà, chẳng cần nhiều đầu óc để suy tính, đến cả một anh không có hiểu biết gì về kế toán còn ít lỗi hơn mình. Vậy đấy. Kể ra cũng tự khâm phục mình thật, đi làm công việc này được hơn 1 năm rưỡi rồi đấy. Một công việc nhàm chán, không đem lại được nhiều cho bản thân. Vì sao mà mình theo công việc này lâu vậy nhỉ? vì nhát gan, ko dám làm đơn xin thôi việc? vì sợ bố mẹ, họ hàng làm xóm la mắng? Vì cái gì đây. Cái câu hỏi mà ngày nào mình cũng hỏi bản thân mà vẫn chưa đưa được ra câu trả lời. Có chị tốt bụng phòng bên bảo mày giỏi tiếng anh thế sao không ở nhà cày tiếng anh rồi xin học bổng đi du học. tại sao? Tại sao em không dám làm vậy?
Chiều tối cùng các chị trong phòng đi thử áo dài một chị trong phòng thông báo chị đã đỗ vị trí quản lý chi phí của BIDV. hic. mừng cho chị ấy lắm. chị là một người cố gắng không ngừng nghỉ, niềm hi vọng chưa bao giờ tắt trong con người chị ấy. chị thi nhiều lần, trượt nhiều lần nhưng chị vẫn thi lại. kHông như mình mới trượt 1 lần đã nản. chắc vì đi phỏng vấn nhiều nên chị cũng có nhiều kinh nghiệm. Từ ngày làm TCB mình không có nhiều cơ hội đi phỏng vấn ở bên ngoài cũng chẳng có thời gian ôn luyện. Em khâm phục chị thật đấy chị Huế Đỗ ạ. Nhận được tin chị đỗ BIDV mà em thấy mình tủi thân quá. Có phải em quá hèn nhát không?
Em có kể cho các chị nghe chị đi thi nhiều mà cũng trượt nhiều lắm. các chị ấy bĩu môi: "con đấy nó thì đi đâu được. " Hic. vậy mà chị đi được rồi đấy, được sang hẳn 1 ngân hàng to hơn, chế độ tốt hơn gấp vạn lần.
Có lần em nói với chị: Chị không nản à.
chị trả lời: chị không, bạn chị nhiều đứa đỗ, tại sao chị lại không.
Ừ nhỉ, chắc có lẽ từ trước đến giờ em giống ếch ngồi đáy giếng, bao vây bởi những người luôn thỏa mãn với những gì mình đã có nên vậy đấy.
Thực sự hôm nay em cảm thấy mông lung về con đường sắp tới của mình quá. không biết đi về đâu đây. đã ra trường hơn 1 năm rồi mà vẫn chưa có định hướng gì về tương lai của mình. Còn chị, chị có công việc ổn định, có chồng, có nhà ở Hà Nội rồi. Còn em, e chưa có gì cả. Em chỉ giống chị ra trường là vào TCB làm, và chưa từng một lần được khác biệt, được sống đúng nghĩa.
hic. Hôm nay ngày 14/10 phòng mình nhận báo cáo kiểm soát sau. tên mình sáng nhất báo cáo, không hiểu do cẩu thả, hay do quá nhiều chứng từ làm mình không thể cover hết được các lỗi nữa. và cũng chắc do một phần là chán công việc. vì ngày nào cũng như ngày làm. đi làm như một con robot (mọi người hay nói đùa với nhau phòng mình là công nhân kế toán. Ừ kể ra cũng phải công việc chỉ có vậy thôi mà, chẳng cần nhiều đầu óc để suy tính, đến cả một anh không có hiểu biết gì về kế toán còn ít lỗi hơn mình. Vậy đấy. Kể ra cũng tự khâm phục mình thật, đi làm công việc này được hơn 1 năm rưỡi rồi đấy. Một công việc nhàm chán, không đem lại được nhiều cho bản thân. Vì sao mà mình theo công việc này lâu vậy nhỉ? vì nhát gan, ko dám làm đơn xin thôi việc? vì sợ bố mẹ, họ hàng làm xóm la mắng? Vì cái gì đây. Cái câu hỏi mà ngày nào mình cũng hỏi bản thân mà vẫn chưa đưa được ra câu trả lời. Có chị tốt bụng phòng bên bảo mày giỏi tiếng anh thế sao không ở nhà cày tiếng anh rồi xin học bổng đi du học. tại sao? Tại sao em không dám làm vậy?
Chiều tối cùng các chị trong phòng đi thử áo dài một chị trong phòng thông báo chị đã đỗ vị trí quản lý chi phí của BIDV. hic. mừng cho chị ấy lắm. chị là một người cố gắng không ngừng nghỉ, niềm hi vọng chưa bao giờ tắt trong con người chị ấy. chị thi nhiều lần, trượt nhiều lần nhưng chị vẫn thi lại. kHông như mình mới trượt 1 lần đã nản. chắc vì đi phỏng vấn nhiều nên chị cũng có nhiều kinh nghiệm. Từ ngày làm TCB mình không có nhiều cơ hội đi phỏng vấn ở bên ngoài cũng chẳng có thời gian ôn luyện. Em khâm phục chị thật đấy chị Huế Đỗ ạ. Nhận được tin chị đỗ BIDV mà em thấy mình tủi thân quá. Có phải em quá hèn nhát không?
Em có kể cho các chị nghe chị đi thi nhiều mà cũng trượt nhiều lắm. các chị ấy bĩu môi: "con đấy nó thì đi đâu được. " Hic. vậy mà chị đi được rồi đấy, được sang hẳn 1 ngân hàng to hơn, chế độ tốt hơn gấp vạn lần.
Có lần em nói với chị: Chị không nản à.
chị trả lời: chị không, bạn chị nhiều đứa đỗ, tại sao chị lại không.
Ừ nhỉ, chắc có lẽ từ trước đến giờ em giống ếch ngồi đáy giếng, bao vây bởi những người luôn thỏa mãn với những gì mình đã có nên vậy đấy.
Thực sự hôm nay em cảm thấy mông lung về con đường sắp tới của mình quá. không biết đi về đâu đây. đã ra trường hơn 1 năm rồi mà vẫn chưa có định hướng gì về tương lai của mình. Còn chị, chị có công việc ổn định, có chồng, có nhà ở Hà Nội rồi. Còn em, e chưa có gì cả. Em chỉ giống chị ra trường là vào TCB làm, và chưa từng một lần được khác biệt, được sống đúng nghĩa.
Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2016
Bài 1. Chủ ngữ và động từ Level 400-600
I. Basic Grammar
- Chủ ngữ và động từ là 2 thành phần chủ yếu của câu. Một câu hoàn chỉnh bắt buộc phải có 1 chủ ngữ và 1 động từ chính.
The plane / takes off. (O)
Subject Verb
Document / confidential.(X)
Subject Adj
- Vị trí của chủ ngữ và động từ: Chủ ngữ thường đứng ở đầu câu, động từ thường đứng sau chủ ngữ của nó.
II. Chủ ngữ
Chủ ngữ có thể là : Nouns (Danh từ), Pronoun( Đại từ), Gerund (V-ing), To-infinitives hoặc Noun clause (Mênh đề danh từ)
Example:
Noun: Stocks became worthless.
Pronoun: They were my student.
Gerund: Teaching people is my passion.
To-infinitives: To pass the exam is necessary.
Noun clause: That he will come is certain.
Note: Verbs and Adjectives không thể là chủ ngữ trong câu.
III. Động từ
Danh từ, To-infinitive, gerunds, Nouns và adjectives không thể đứng ở vị trí của động từ trong câu.
Example:
I (to commute, commune) to the company by bus.
to-infinitive (x) Verb(O)
They (organization, organize) this training course for new employees.
Noun (x) Verb(O)
- Chủ ngữ và động từ là 2 thành phần chủ yếu của câu. Một câu hoàn chỉnh bắt buộc phải có 1 chủ ngữ và 1 động từ chính.
The plane / takes off. (O)
Subject Verb
Document / confidential.(X)
Subject Adj
- Vị trí của chủ ngữ và động từ: Chủ ngữ thường đứng ở đầu câu, động từ thường đứng sau chủ ngữ của nó.
II. Chủ ngữ
Chủ ngữ có thể là : Nouns (Danh từ), Pronoun( Đại từ), Gerund (V-ing), To-infinitives hoặc Noun clause (Mênh đề danh từ)
Example:
Noun: Stocks became worthless.
Pronoun: They were my student.
Gerund: Teaching people is my passion.
To-infinitives: To pass the exam is necessary.
Noun clause: That he will come is certain.
Note: Verbs and Adjectives không thể là chủ ngữ trong câu.
III. Động từ
Danh từ, To-infinitive, gerunds, Nouns và adjectives không thể đứng ở vị trí của động từ trong câu.
Example:
I (to commute, commune) to the company by bus.
to-infinitive (x) Verb(O)
They (organization, organize) this training course for new employees.
Noun (x) Verb(O)
Khái niệm về nợ nước ngoài
1.1.1. Khái niệm
Vốn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của mỗi nước. Các nước muốn phát triển nhanh đều phải dựa vào các nguồn vốn đầu tư cho phát triển bao gồm vốn trong nước và vốn nước ngoài. Vốn trong nước được huy động từ nội lực của nền kinh tế. Nếu vốn trong nước không đủ phải huy động vốn nước ngoài. Nợ nước ngoài là một phần trong vốn nước ngoài.
Theo khoản 8 điều 2 quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm theo Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ) quy định: “ Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ nợ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoài của Việt Nam. Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân”.
Theo tài liệu tập huấn do Bộ tài chính và Học viện đào tạo khu vực của IMF Singapore tài trợ, các chính sách và lập trình tài chính, “tổng nợ nước ngoài là tổng khối lượng tài sản nợ (tính theo giá hiện tại) cam kết đối với những người không cư trú. Cam kết ở đây được hiểu là nghĩa vụ cam kết đối với các khoản nợ ngắn hạn, dài hạn đã được giải ngân của trái phiếu và tín dụng thương mại (kể cả nợ gốc lẫn lãi)”. Theo quan niệm này, nợ nước ngoài là nợ của những người cư trú đối với người không cư trú, không phân biệt loại tiền tệ, không phân biệt thời hạn.
Theo tám tổ chức nghiên cứu thống kê nợ nước ngoài gồm Ngân hàng Thanh toán quốc tế, Ban thư ký Khối thịnh vượng chung, Tổ chức thống kê Châu Âu, Quỹ tiến tệ quốc tế, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, Ban thư ký câu lạc bộ Paris, Hội nghị về Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc, nợ nước ngoài được thống nhất định nghĩa theo IMF (External Debt Statistics guild for complier and users): “Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào, là tổng của các nghĩa vụ nợ tại thời điểm đó, không bao gồm các nghĩa vụ nợ dự phòng, đòi hỏi người đi vay phải thanh toán nợ gốc có hay không có lãi trong tương lai và các khoản nợ này là nợ của người cư trú và người không cư trú trong quốc gia. Như vậy, theo định nghĩa được quốc tế được thừa nhận rộng răi này, nợ nước ngoài của một nước là tất cả khoản nợ nước đó với nước ngoài, bất kể người đi vay là Chính phủ, các tổ chức của Chính phủ hay các doanh nghiệp tư nhân. Các chủ nợ có thể là các tổ chức quốc tế, Chính phủ, các tổ chức thuộc chính phủ hoặc các cá nhân nước ngoài.
Lý thuyết về nợ nước ngoài và khủng hoảng nợ nước ngoài
1.1. Khái quát về nợ nước ngoài
1.1.1. Khái niệm
Vốn là một trong những yếu
tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của mỗi nước. Các nước muốn phát
triển nhanh đều phải dựa vào các nguồn vốn đầu tư cho phát triển bao gồm vốn
trong nước và vốn nước ngoài. Vốn trong
nước được huy động từ nội lực của nền kinh tế. Nếu vốn trong nước không đủ phải
huy động vốn nước ngoài. Nợ nước ngoài
là một phần trong vốn nước ngoài.
Theo khoản 8 điều 2 quy
chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm theo Nghị định số
134/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ) quy định: “ Nợ nước
ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ nợ hiện hành (không bao gồm nghĩa
vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước
ngoài của Việt Nam. Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực
công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân”.
Theo tài liệu tập huấn do
Bộ tài chính và Học viện đào tạo khu vực của IMF Singapore tài trợ, các chính
sách và lập trình tài chính, “tổng nợ nước ngoài là tổng khối lượng tài sản nợ
(tính theo giá hiện tại) cam kết đối với những người không cư trú. Cam kết ở
đây được hiểu là nghĩa vụ cam kết đối với các khoản nợ ngắn hạn, dài hạn đã được
giải ngân của trái phiếu và tín dụng thương mại (kể cả nợ gốc lẫn lãi)”. Theo
quan niệm này, nợ nước ngoài là nợ của những người cư trú đối với người không
cư trú, không phân biệt loại tiền tệ, không phân biệt thời hạn.
Theo tám tổ chức nghiên cứu
thống kê nợ nước ngoài gồm Ngân hàng Thanh toán quốc tế, Ban thư ký Khối thịnh
vượng chung, Tổ chức thống kê Châu Âu, Quỹ tiến tệ quốc tế, Tổ chức hợp tác và
phát triển kinh tế, Ban thư ký câu lạc bộ Paris, Hội nghị về Thương mại và Phát
triển của Liên hiệp quốc, nợ nước ngoài được thống nhất định nghĩa theo IMF (External
Debt Statistics guild for complier and users): “Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ
thời điểm nào, là tổng của các nghĩa vụ nợ tại thời điểm đó, không bao gồm các
nghĩa vụ nợ dự phòng, đòi hỏi người đi vay phải thanh toán nợ gốc có hay không
có lãi trong tương lai và các khoản nợ này là nợ của người cư trú và người
không cư trú trong quốc gia. Như vậy, theo định nghĩa được quốc tế được thừa nhận
rộng răi này, nợ nước ngoài của một nước là tất cả khoản nợ nước đó với nước
ngoài, bất kể người đi vay là Chính phủ, các tổ chức của Chính phủ hay các
doanh nghiệp tư nhân. Các chủ nợ có thể là các tổ chức quốc tế, Chính phủ, các
tổ chức thuộc chính phủ hoặc các cá nhân nước ngoài.
1.1.2. Vai trò của nợ nước ngoài
1.1.2.1. Đối với nước vay nợ
·
Đáp
ứng nhu cầu về vốn đầu tư
Vốn vay nước ngoài đóng
vai trò là một nguồn bổ sung cho nguồn vốn phát triển kinh tế- xã hội của mỗi
quốc gia đặc biệt với các nước đang phát triển luôn trong tình trạng thiếu thốn
về vốn. Với việc đi vay nước ngoài, một quốc gia có cơ hội đầu tư phát triển ở
mức cao hơn. Tuy nhiên, việc vay nợ nước ngoài chỉ có thể có hiệu lực nếu bản
thân nó đảm bảo không ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiêu dùng của thế hệ tương
lai.
·
Nợ
nước ngoài góp phần chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý
Bên cạnh nguồn vốn tự có
để nhập khẩu máy móc thiết bị kèm theo chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý,
việc vay vốn nước ngoài bổ sung thêm nguồn lực để nhập khẩu các máy móc thiết bị
hiện đại, công nghệ tiên tiến cùng với kỹ năng quản lý tiên tiến từ nước ngoài.
Các dự án góp phần hiện đại hóa nhiều ngành, lĩnh vực, thúc đẩy các ngành, lĩnh
vực khác chuyển đổi theo. Các dự án hợp tác đào tạo cũng tạo ra rất nhiều cơ hội
đào tạo và đào tạo nâng cao cho lực lượng cán bộ chủ chốt của các ngành địa
phương, góp phần nâng cao năng lực quản lý của toàn bộ nền kinh tế xã hội.
·
Ổn
định tiêu dùng trong nước
Khi có những “cơn sốt” đột
ngột giáng vào nền kinh tế, sản lượng bị thiếu hụt nặng nề, tiêu dùng trong nước
suy giảm nghiêm trọng. Ví dụ như ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính hay
thiên tai bất ngờ làm cho nền kinh tế kiệt quệ. Trong những trường hợp như vậy,
bên cạnh các khoản viện trợ quốc tế thì vay nợ nước ngoài đóng vai trò là biện
pháp góp phần ổn định tiêu dùng trong nước trong ngắn hạn, trong khi nền kinh tế
dần được phục hồi.
·
Bù
đắp cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán của một
nước có thể tạm thời bị thâm hụt do nhiều nguyên nhân bất lợi trong thương mại
quốc tế như giá hàng hóa xuất khẩu giảm, nước ngoài áp dụng các biện pháp thuế
quan và phi thuế quan đối với các mặt hàng nhập khẩu…. Khi đó, quốc gia thâm hụt
cán cân thanh toán có thể sử dụng biện pháp vay nợ nước ngoài để bù đắp phần
thâm hụt này. Tuy nhiên, giải pháp này thường có rủi ro cao, vì không có gì chắc
chắn rằng các nước đi vay sẽ có được thu nhập khá hơn khi đến hạn phải trả nợ.
1.1.2.2. Đối với nước cho vay và quốc tế
Nợ nước ngoài có vai trò
quan trọng không chỉ đối với nước đi vay mà còn cả đối với nước cho vay.
·
Xuất
khẩu vốn nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn
Nhờ có hoạt động cho vay
nước ngoài mà các nhà đầu tư tìm được nơi đầu tư thích hợp, thu được lợi nhuận
cao nhất. Tránh được hiện tượng tồn đọng, dư thừa vốn.
·
Giảm
thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư
Cho vay nước ngoài giúp
nước cho vay đa dạng hóa các khoản vay của mình, tránh hiện tượng “bỏ trứng vào
cùng một rổ” do đó giảm thiểu được rủi ro cho nước cho vay.
·
Nâng
cao vị thế kinh tế chính trị của nước cho vay trên trường quốc tế, thúc đẩy
xuất khẩu hàng hóa
Các khoản cho vay hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA) có thể có điều khoản ràng buộc nhất định, điều kiện
này tùy thuộc vào quy định của từng nước cho vay. Đó là các điều kiện về thương
mại và chính trị. Xu hướng hiện nay các ràng buộc về chính trị giảm dần, chủ yếu
là các ràng buộc về thương mại như để nhận được khoản vay ODA thì nước tiếp nhận
phải nhập khẩu hàng hóa của nước cho vay ở một số lượng nhất định. Các nước
giàu khi viện trợ ODA thường gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị
trường, mở rộng hợp tác cho họ: phải dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các
ngành công nghiệp non trẻ và nhập khẩu hàng hóa nước cho vay.
·
Giúp
nước cho vay đạt được một số mục đích khác như chính trị, quân sự,…
1.1.3. Phân loại nợ nước ngoài
Tùy theo mục đích, cách
thức quản lý cũng như cách thức sử dụng mà có thể phân loại nợ theo các tiêu
chí khác nhau.
1.1.3.1 Căn cứ vào thời hạn khoản vay
v Vay ngắn hạn
Là khoản vay có thời hạn
dưới một năm. Vì thời gian đáo hạn ngắn, khối lượng thường không đáng kể, nợ ngắn
hạn thường không thuộc đối tượng quản lý một cách chặt chẽ như nợ dài hạn. Tuy
nhiên, những khoản nợ ngắn hạn có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình thanh khoản
của quốc gia và có khả năng gây ra khủng hoảng kinh tế. Do vậy, cần phải điều
chỉnh nợ ngắn hạn phù hợp để giảm bớt áp lực thanh toán và những tác động tiêu
cực lên nền kinh tế khi có sự rút lui đột ngột của các luồng vốn ngắn hạn.
v Vay dài hạn
Là khoản vay có thời hạn đáo hạn gốc theo hợp
đồng hoặc đã gia hạn kéo dài trên một năm tính từ ngày ký kết vay nợ đến hạn
khoản thanh toán cuối cùng. Nợ dài hạn được quản lý nhiều hơn do đây là khoản nợ
với khối lượng lớn do đó nó có khả năng tác động lớn đến nền tài chính quốc
gia.
1.1.3.2. Căn cứ vào chủ thể đi vay
v Nợ chính thức (nợ khu vực công)
Bao gồm nợ của các tổ chức
nhà nước và nợ của cơ quan hành chính tỉnh, thành phố. Ngoài ra còn có các khoản
nợ của khu vực tư nhân do nhà nước hoặc tổ chức chính thức bảo lãnh cũng được
coi là chính thức vì chính phủ của nước đi vay sẽ chịu trách nhiệm trả trả vốn
và lãi cho nước cho vay trong trường hợp tổ chức đi vay không thực hiện nghĩa vụ
trả nợ theo cam kết trong hợp đồng.
v Nợ tư nhân (khu vực tư)
Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân là nợ nước
ngoài của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thuộc khu vực tư nhân. Nợ tư nhân
thường là nợ trên thị trường trái phiếu, nợ ngân hàng thương mại và nợ các tư
nhân khác.
1.1.3.3. Căn cứ theo loại hình vay
v Vay hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA)
Theo định nghĩa của tổ chức
hợp tác Kinh tế và Phát triển, hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các chuyển
khoản song phương hoặc đa phương trong đó ít nhất 25% là cho không.
Tính ưu đãi của vay hỗ trợ
phát triển chính thức: Vay hỗ trợ phát triển chính thức là loại nợ có nhiều điều
kiện ưu đãi, ưu đãi về lãi suất, về thời gian trả nợ và thời gian ân hạn. Lãi
suất của vay hỗ trợ phát triển chính thức thấp hơn nhiều so với vay thương mại.
Thời gian cho vay hỗ trợ phát triển chính thức dài (có thể từ 10, 15 hay 20
năm) và thời gian ân hạn dài, do vậy các nước đang phát triển thường hướng tới
và tận dụng tối đa nguồn vốn này cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Tuy nhiên, vay hỗ trợ
phát triển chính thức cũng có những mặt trái của nó. Tính ưu đãi của vay hỗ trợ
phát triển chính thức rất rõ rệt nên việc vay hỗ trợ phát triển chính thức đôi
khi kèm theo các điều kiện ràng buộc.
v Vay thương mại
Vay thương mại không có ưu đãi cả về lãi suất
và thời gian ân hạn, lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trường tài chính
quốc tế và thường thay đổi theo lãi suất thị trường. Chính vì vậy, vay thương mại
thường có lãi suất khá cao và chứa đựng nhiều rủi ro. Vay thương mại của chính
phủ phải được cân nhắc hết sức thận trọng và chỉ quyết định vay khi không còn
cách nào khác.
1.1.3.4. Phân loại nợ theo chủ thể cho vay
v Nợ đa phương
Chủ yếu đến từ các cơ quan
của Liên hiệp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, các ngân hàng phát
triển trong khu vực, các cơ quan đa phương như OPEC và liên chính phủ. Nợ đa
phương thường được ưu tiên trả trước vì các tổ chức đa phương cho vay với lãi
suất thấp hơn các ngân hàng thương mại. Nếu nợ của các tổ chức tài chính quốc tế
mà không trả được thì không còn bất cứ tổ chức chính thức nào cho vay nữa.
v Nợ song phương
Đến từ Chính phủ một nước như các nước thuộc tổ
chức OECD và các nước khác hoặc đến từ một tổ chức quốc tế nhân danh một chính
phủ duy nhất dưới dạng hỗ trợ tài chính, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật.
1.1.4. Chu trình nợ nước ngoài
Các nước vay nợ thường phải
trải qua những giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển, trong đó nợ nước
ngoài được tích tụ, tăng dần trong thời gian đầu và giảm dần khi tiết kiệm
trong nước tăng và có tích lũy. Với chiến lược phát triển kinh tế nói chung và
chiến lược vay nợ nói riêng có hiệu quả, nước vay nợ dần trở thành nước cho vay
nợ. Mỗi quốc gia đi vay cần nhận thức được các giai đoạn này cũng như các vấn đề
và các nguy cơ tiềm ẩn trong mỗi giai đoạn để có những chiến lược và chính sách
quản lý nợ phù hợp. Theo giả thuyết kinh tế học hiện đại, một nước đi vay sẽ trải
qua các giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Nước vay nợ trẻ (Young debtor
nation). Đặc tính nổi bật của giai đoạn này là thâm hụt cán cân thương mại.
Trong thời kỳ chậm phát triển, đầu tư và chi tiêu của chính phủ thường vượt quá
tiết kiệm và thuế thu được, kết quả là nền kinh tế thường xuyên thiếu hụt nguồn
lực. Sự thâm hụt này thể hiện trên tài khoản vãng lai của quốc gia trong đó nhập
khẩu cao hơn xuất khẩu. Trong khi đó tài khoản vốn thường xuyên dương do dòng vốn
từ nước ngoài chảy vào. Nợ nước ngoài đóng vai trò là nguồn lực bù đắp cho thiếu
hụt thực tế trong nước. Trong giai đoạn nước vay nợ trẻ, nợ nước ngoài có xu hướng
tăng dần cùng với tiền trả lãi nợ làm tăng thêm thiếu hụt tài khoản vãng lai. Sự
tích tụ nợ nước ngoài lên đến đỉnh cao khi quốc gia trở thành nước vay nợ trưởng
thành.
Giai đoạn 2: Nước vay nợ trưởng thành (Mature
debtor nation). Đặc điểm của thời kỳ này là thâm hụt cán cân thương mại giảm xuống
và bắt đầu có chút dư thừa do công nghiệp xuất khẩu trong nước đạt được những thành tựu nhất định .
Dòng vốn vay nước ngoài tăng chậm dần, tuy nhiên lượng nợ nước ngoài tích tụ lại
khá lớn cùng với nợ là dòng tiền trả lãi nợ hàng năm cũng lớn.
Giai đoạn 3: Trả nợ (Debt repayment nation). Giai
đoạn này nước đi vay có tiết kiệm trong nước cao hơn đầu tư trong nước cộng với
lãi nợ phải thanh toán. Dư thừa nguồn lực trong nước thể hiện bằng dư thừa trên
tài khoản vãng lai, xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Nước đi vay bắt đầu trả nợ gốc,
thể hiện bằng dòng vốn chảy ra nước ngoài trên tài khoản vốn, đồng thời dòng tiền
trả lãi nợ giảm đi. Lượng nợ nước ngoài giảm dần trong giai đoạn này.
Giai đoạn 4: Nước cho vay nợ trẻ (Young creditor
nation). Đặc điểm của giai đoạn này là thặng dư tài khoản vãng lai tăng cao, nợ
nước ngoài đã được trả hết và bắt đầu trở thành một nước cho vay với sự mở rộng
của các khoản đầu tư ra nước ngoài. Tài khoản vốn bắt đầu thâm hụt.
Giai
đoạn 5: Nước cho vay
trưởng thành (Mature creditor nation). Đặc điểm của giai đoạn này là sự tích tụ
của tài sản ở nước ngoài và thặng dư thu nhập tăng cao. Phần thặng dư được chuyển
sang tiêu dùng. Sự già hóa dân số và mức lương cao làm giảm tính cạnh tranh quốc
gia kết quả là cán cân thương mại bắt đầu xấu đi. Tuy nhiên, quốc gia vẫn duy
trì thăng dư cán cân tổng thể do thặng dư thu nhập lớn.
Giai đoạn 6: Nước thanh lý tài sản (Asset
liquidation nation). Đặc điểm của giai đoạn này là tiêu dùng tăng đến quy mô vượt
mức thặng dư thu nhập và tài khoản vãng lai bắt đầu thâm hụt. Dòng vốn chảy vào
để bù đắp những thâm hụt này, nợ nước ngoài tăng trong khi tài sản ở nước ngoài
bị thu hẹp.
Bảng1.1: Tóm tắt đặc điểm của các
giai đoạn trong chu trình nợ nước ngoài
Giai đoạn
|
Tên giai đoạn
|
Cán cân thương mại
|
Tài khoản vãng lai
|
Tài khoản vốn
|
Lương thực tế
|
Tính cạnh tranh
|
Lãi suất thực tế
|
Nội tệ so với chỉ số
Big Mac
|
Lạm phát so với các
quốc gia khác
|
1
|
Nước vay nợ trẻ
|
Thâm hụt
|
Thâm hụt
|
Đi vay
|
Thấp
|
Đang tăng
|
Rất cao
|
Định giá thấp
|
Cao
|
2
|
Nước vay nợ trưởng
thành
|
Thặng dư
|
Thâm hụt
|
Đi vay
|
Thấp
|
Đang tăng
|
Cao
|
Định giá thấp
|
Trung bình
|
3
|
Trả nợ
|
Thặng dư
|
Thặng dư
|
Cho vay
|
Đang tăng
|
Đang tăng
|
Trung bình
|
Trung lập
|
Thấp
|
4
|
Nước cho vay nợ trẻ
|
Thặng dư
|
Thặng dư
|
Cho vay
|
Đang tăng
|
Cao
|
Rất thấp
|
Định giá cao
|
Rất thấp
|
5
|
Nước cho vay nợ trưởng
thành
|
Thâm hụt
|
Thặng dư
|
Cho vay
|
Cao
|
Đang giảm
|
Thấp
|
Định giá quá cao
|
Thấp
|
6
|
Nước thanh lý tài sản
|
Thâm hụt
|
Thâm hụt
|
Đi vay
|
Cao
|
Đang giảm
|
Thấp
|
Định giá quá cao
|
Trung bình
|
7
|
Quay lại giai đoạn
1
|
Thâm hụt
|
Thâm hụt
|
Đi vay
|
Đang giảm
|
Đang tăng
|
Thấp
|
Định giá thấp
|
Thấp
|
Từ bảng trên, đối chiếu với
số liệu thực tế của Việt Nam, ta thấy trước năm 2012, Việt Nam thuộc giai đoạn Nước
vay nợ trẻ, nhưng năm 2012 và năm 2013, nước ta có xu hướng chuyển sang giai đoạn
Nước vay nợ trưởng thành do cán cân thương mại trong hai năm này thặng dư đồng
thời lạm phát đã được kiềm chế 6.81% năm 2012 và 6.04% năm 2013. Điều này được
nhóm tác giả phân tích rõ hơn trong mục 2.1.
1.1.5. Đánh giá nợ nước ngoài theo
tiêu chuẩn quốc tế
1.1.5.1. Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài
Dựa trên tầm quan trọng của
vấn đề quản lý nợ nước ngoài trong việc xây dựng chính sách phát triển kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia, hệ thống các chỉ số đánh giá nợ nước ngoài đưa ra nhằm
xác định mức độ nghiêm trọng của nợ nước ngoài đối với an ninh tài chính quốc
gia.
Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nước ngoài
·
Khả
năng hoàn trả nợ vay nước ngoài
Xuất khẩu là một hoạt động
quan trọng trong bất cứ nền kinh tế nào vào thời điểm mà hội nhập quốc tế là xu
hướng chủ đạo như ngày nay. Xuất khẩu cũng chính là hoạt động đem lại nguồn thu
ngoại tệ lớn trực tiếp và thường xuyên cho đất nước. Do vậy để đánh giá khả
năng hoàn trả nợ nước ngoài người ta sử dụng tỷ lệ nợ nước ngoài trên tổng kim
ngạch xuất khẩu
Chỉ tiêu trên nhỏ hơn 1,
tức là tổng nợ nước ngoài < tổng kim ngạch xuất khẩu, nước này hoàn toàn có
đủ khả năng để trả nợ nước ngoài. Chỉ tiêu trên lớn hơn 1, tức là tổng nợ nước
ngoài > tổng kim ngạch xuất khẩu, khả năng nước này không hoàn trả được nợ
tương đối cao. Tuy nhiên không nên ỷ lại quá mức vào nguồn thu từ xuất khẩu vì
thị trường xuất khẩu thường xuyên biến động, phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh
tế chính trị của nước đối tác, nhất là đối với các nước đang phát triển phụ thuộc
vào xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế với giá cả bấp bênh.
·
Chỉ
số nợ nước ngoài so với tổng sản phẩm quốc nội
Nợ nước ngoài trên GDP được
đo bằng tỷ số phần trăm giữa tổng nợ trong nước và tổng sản phẩm trong nước
hàng năm.
Nợ nước ngoài trên GDP là
chỉ số tổng hợp nhất đánh giá mức độ nợ nước ngoài của một quốc gia. Nợ nước
ngoài trên GDP biểu diễn mối tương quan giữa tổng nợ nước ngoài so với năng lực
tạo ra nguồn thu nhập để trả nợ ở trong nước.
Theo công thức đơn giản
trên, nợ nước ngoài trên GDP trong một giai đoạn nhất định sẽ phụ thuộc và tốc
độ tăng của nợ nước ngoài, tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế (đo bằng đồng tiền giá
so sánh) và biến động của tỷ giá hối đoái thực tế. Tỷ số này càng nhỏ thì mức độ
nợ nước ngoài của nước này thấp. Ngược lại, tỷ số này càng cao thì mức độ nợ nước
ngoài của nước này càng nghiêm trọng. Tuy nhiên, các nước đang phát triển thường
đánh giá cao đồng nội tệ hoặc sử dụng chế độ đa tỷ giá dẫn tới làm giảm tình trạng
trầm trọng của nợ khiến cho việc sử dụng chỉ tiêu trên không đánh giá đúng mức
tình trạng nợ.
·
Tỷ
lệ trả nợ
Như phần trên đã giải
thích xuất khẩu là nguồn thu ngoại tệ trực tiếp và thường xuyên cho đất nước.
Do đó để nói lên tỷ lệ trả nợ các tổ chức quốc tế sử dụng tỷ lệ giữa nghĩa vụ nợ
và kim ngạch xuất khẩu.
Nghĩa vụ nợ là số tiền cả
gốc và lãi được yêu cầu phải trả trong một thời gian nhất định. Tiêu chí này phản
ánh quan hệ giữa nghĩa vụ nợ phải trả so với năng lực xuất khẩu hàng hóa và dịch
vụ của quốc gia đi vay. Nếu tỷ lệ trả nợ nhỏ hơn 1, thì mức độ an toàn nợ cao.
Nếu tỷ lệ trả nợ cao hơn 1 thì nước này có nguy cơ không hoàn thành nghĩa vụ nợ
cao.
·
Tỷ
lệ trả lãi
Một
quốc gia phải thanh toán lãi với mức lãi suất được quy định trong cam kết cho
vay, thông thường lãi này được trích từ thu nhập xuất khẩu. Quốc gia vay nợ
trong quá khứ thì hiện tại và tương lai họ sẽ trích thu nhập xuất khẩu càng nhiều,
hạn chế khối lượng ngoại tệ giành cho nhập khẩu. Tỷ lệ này càng nhỏ thì khả
năng trả được lãi của quốc gia này càng cao. Ngược lại, tỷ lệ này càng cao thì
khả năng không trả được nợ cao, làm tăng thêm mức độ nghiêm trọng của nợ.
·
Tỷ
lệ trả lãi so với tổng sản phẩm quốc nội
Tổng lãi phải trả so với
thu nhập quốc gia phản ánh tiềm năng trả lãi của nước đi vay. Nếu tỷ lệ này nhỏ,
tức là lãi phải trả chiếm một phần nhỏ trong tổng thu nhập của quốc gia nên khả
năng trả được lãi vay của quốc gia này cao, ngược lại tỷ lệ này lớn thì khả
năng vỡ nợ của quốc gia càng cao.
Các chỉ tiêu
đánh giá cơ cấu nợ nước ngoài:
Cơ cấu nợ nước ngoài chứa
những thông tin quan trọng về mức độ rủi ro của việc vay nợ. Thông thường rủi
ro sẽ cao khi tỷ trọng nợ ngắn hạn, nợ thương mại và nợ song phương cao. Các chỉ
tiêu đánh giá cơ cấu nợ nước ngoài gồm:
·
Nợ
ngắn hạn/ Tổng nợ
Trong tổng nợ có nợ ngắn
hạn, nợ trung hạn và dài hạn. Tỷ lệ này phản ánh tỷ trọng các khoản nợ cần
thanh toán trong thời gian dưới một năm trong tổng nợ. Tỷ lệ càng cao, áp lực
trả nợ càng lớn. Ngược lại, tỷ lệ càng thấp thì áp lực trả nợ càng thấp.
·
Vay
hỗ trợ phát triển chính thức/ Tổng nợ
Trong tổng nợ có vay hỗ
trợ phát triển chính thức và vay thương mại. Vay hỗ trợ phát triển chính thức
là loại nợ có nhiều điều kiện ưu đãi, ưu đãi về lãi suất, về thời gian trả nợ
và thời gian ân hạn. Lãi suất của vay hỗ trợ phát triển chính thức thấp hơn nhiều
so với vay thương mại. Áp lực trả nợ thấp hơn vay thương mại. Tỷ lệ này càng
cao, gánh nặng nợ nước ngoài càng nhẹ. Ngược lại, tỷ lệ này càng thấp thì gánh
nặng nợ càng cao.
·
Nợ
đa phương/ Tổng nợ
Các khoản nợ đa phương
thường nhằm mục đích hỗ trợ, do đó việc tăng tỷ trọng nợ đa phương trong tổng nợ
nhằm phản ánh tình hình nợ nước ngoài của một nước thay đổi theo chiều hướng tốt.
Các chỉ tiêu đánh giá tính thanh khoản
Các chỉ tiêu này thường
thể hiện khả năng trả nợ tức thời. Nói cách khác là khả năng đối phó nhanh của
nền kinh tế đối với các biến động bất thường của dòng tiền vay mượn. Các chỉ
tiêu đánh giá tính thanh khoản gồm có:
·
Dự
trữ quốc tế/ tổng nợ
Dự trữ quốc tế là lượng
ngoại tệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quan quản lý tiền tệ nắm giữ. Ngoại hối
có thể dự trữ dưới hình thức tiền mặt, số dư tài khoản tiền gửi ngoại tệ ở nước
ngoài, các giấy tờ có giá khác của chính phủ nước ngoài, ngân hàng nước ngoài,
các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, vàng, kim đá quý. Tỷ lệ này phản ánh khả
năng sử dụng dự trữ ngoại hối để trả nợ của ngân hàng Trung ương của một nước.
Tỷ lệ càng cao thì tính thanh khoản của nợ nước ngoài cao và ngược lại.
·
Trả
nợ/ Tổng thu Ngân sách
Ngân sách nhà nước đóng một
vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế nước ta mà
còn đối với bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới. Nguồn trả nợ cho các quốc
gia chính là ngân sách nhà nước. Do vậy, tổng thu ngân sách nhà nước ảnh hưởng
tới khả năng trả nợ của một quốc gia. Theo tiêu chuẩn quốc tế, giới hạn an toàn
là tỷ lệ trả nợ trên tổng thu ngân sách nằm trong khoảng 10-12%. Nếu vượt qua
giới hạn này ngân sách một nước sẽ gặp khó khăn về trả nợ.
·
Dự
trữ quốc tế/ nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Dự trữ quốc tế có vai trò
vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Dự trữ ngoại hối giúp
ngân hàng trung ương đối phó với những bất lợi trên thị trường ngoại hối. Đặc
biệt là thời kỳ cầu về ngoại tệ tăng cao (cung về nội tệ tăng) để giữ ổn định
giá trị đồng nội tệ buộc ngân hàng trung ương phải có nguồn dự trữ ngoại hối đủ
mạnh. Theo tiêu chuẩn quốc tế, dự trữ quốc tế cần đạt tối tiểu ở mức 12 tuần nhập
khẩu để có đủ tiềm lực can thiệp tỷ giá khi mở rộng biên độ, tiến tới thả nổi tỷ
giá và tăng quy mô vay vốn nước ngoài trong giới hạn an toàn.
Ngoài ra, các chỉ tiêu
kinh tế vĩ mô và phi kinh tế khác cũng được sử dụng để đánh giá rủi ro và mức độ
nợ như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng cung tiền, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ
xuất khẩu trên GDP, tỷ lệ đầu tư, mức độ nhập khẩu, thâm hụt ngân sách và nhiều
thước đo khác. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nhân tố biến động kinh tế
thế giới cũng tác động không nhỏ đến quy mô vay nợ của một quốc gia. Khi nền
kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, nguồn thu từ xuất khẩu của các quốc gia
cũng bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực gây khó khăn cho việc trả các khoản vay nợ
nước ngoài.
1.1.5.2. Đánh giá nợ nước ngoài theo nhóm chỉ tiêu
Đánh giá nợ
nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế trước năm 2005
Năm 1989, khi ngân hàng thế giới xuất bản cuốn sách về Bảng nợ của thế
giới, báo cáo hàng năm về nợ và tài
chính của các nước đang phát triển. Đây là lần đầu tiên Ngân hàng này phân loại
các quốc gia mắc nợ theo chiều sâu của vấn đề. Bản báo cáo này đã sử dụng 4 chỉ
số để đánh giá tình trạng nợ của một nước. Đó là:
·
Tỷ
lệ Nợ/ Tổng thu nhập quốc dân
·
Tỷ
lệ nợ/ Xuất khẩu
·
Tỷ
lệ nghĩa vụ nợ kế hoạch năm tiếp theo/ Xuất khẩu
·
Tỷ
lệ trả lãi theo kế hoạch/ Xuất khẩu
Một quốc gia được xếp vào nhóm nợ quá nhiều nếu có 3 trong 4 chỉ tiêu
rơi vào mức tới hạn được tổng hợp trong bảng sau:
Bảng
1.2: Chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế
Hệ số
Phân loại
|
Nợ/ Tổng thu nhập quốc dân
|
Nợ/ Xuất khẩu
|
Nghĩa vụ nợ/ xuất khẩu
|
Trả lãi/ Xuất khẩu
|
Nợ quá nhiều
|
> 50%
|
>275%
|
> 30%
|
>20%
|
Nợ vừa phải
|
30-50%
|
165-275%
|
18-30%
|
12-20%
|
Nợ ít
|
<30%
|
<165%
|
<18%
|
<12%
|
Nguồn: Ngân hàng Thế giới
Bản báo cáo Bảng nợ thế giới 1989-1990 áp dụng giá trị trung bình không
trọng số của mỗi hệ số của 73 quốc gia có vấn đề về nợ như là giá trị tới hạn.
Tuy nhiên, đánh giá nợ trên giá trị danh nghĩa không đủ để phản ánh khả năng
thanh toán thực sự của một quốc gia cũng
không cho thấy bức tranh toàn cảnh về khả năng thanh toán dịch vụ nợ của quốc
gia, đặc biệt trong dài hạn. Năm 1992, với việc công bố bản báo cáo Bảng nợ thế
giới 1992-1993, Ngân hàng Thế giới đã cân nhắc lại việc sử dụng hệ thống phân
loại tình trạng nợ của các bản báo cáo trước đây. Theo đó, Ngân hàng Thế giới
đã giới thiệu chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng của các khoản nợ như một chỉ tiêu
cơ bản để phân loại các quốc gia mắc nợ.
Hai chỉ tiêu giá trị hiện tại của gánh nặng nợ được sử dụng trong bảng nợ
thế giới năm 1992-1993 là nghĩa vụ nợ/ GNP và nghĩa vụ nợ/ Xuất khẩu. Ngân hàng
thế giới phân loại theo các tiêu chí trong bảng sau:
Bảng
1.3: Bảng phân loại mức độ nợ theo WB
Nghĩa vụ nợ/ GNP
|
Nghĩa vụ nợ/ Xuất khẩu
|
|
Nợ nghiêm trọng
|
>80%
|
>220%
|
Nợ trung bình
|
48%-80%
|
132-220%
|
Nợ ít
|
<48%
|
<132%
|
Nguồn:
Ngân hàng Thế giới
Đánh giá nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế sau
từ năm 2005 đến nay
Nghiên cứu chung của IMF và World Bank về khung nợ bền vững (debt
sustainability framework- DSF) được giới thiệu tháng 4 năm 2005 đã thiết lập một
ngưỡng để hướng dẫn các quốc gia và nước viện trợ trong việc chủ động cơ cấu lại
các khoản nợ. Nghiên cứu gần đây được công bố vào tháng 2 năm 2012.
Khung nợ bền vững này phân tích cả khu vực nợ nước ngoài và nợ công. Các
khoản cho vay đối với các nước thu nhập thấp thay đổi một cách đáng kể về tỷ lệ
lãi suất và thời gian dài của việc hoàn trả.
Khung đánh giá mà nghiên cứu này đưa ra tập trung vào giá trị hiện tại của
nghĩa vụ nợ. Điều này để đảm bảo có thể so sánh được các quốc gia khác nhau và
qua các thời kỳ khác nhau. Để đánh giá sự bền vững của nợ,các chỉ số gánh nặng
nợ được so sánh với “ngưỡng” chỉ số trong suốt 20 năm nghiên cứu của dự án. Một
chỉ số về gánh nặng nợ mà vượt quá ngưỡng cho phép, sẽ cảnh báo cho một nguy cơ
khó khăn trong vấn đề hoàn trả nợ.
Có ba mức đánh giá cho nguy cơ của việc gặp khó khăn trong việc trả nợ:
·
Rủi
ro thấp: khi tất cả các chỉ số này đều thấp hơn nhiều so với ngưỡng được đưa
ra.
·
Rủi
ro trung bình: khi các chỉ số ở sát ngưỡng đưa ra. Tuy nhiên, các nghiên cứu
cho thấy rằng các ngưỡng này có bị phá vỡ nếu phải chịu cú sốc từ bên ngoài hay
sự thay đổi đột ngột của các chính sách kinh tế vĩ mô.
·
Rủi
ro cao: khi các quốc gia phải đối mặt với việc gặp khó khăn trong vấn đề hoàn
trả nợ.
Các quốc gia thu nhập thấp với thể chế và chính sách yếu hơn có xu hướng
đối mặt với vấn đề trả nợ ở mức nợ cao hơn các quốc gia có thể chế và chính
sách mạnh. Do đó, nghiên cứu này phân chia các nước thành 3 nhóm theo hiệu suất
của các chính sách sử dụng chỉ số đánh giá thể chế và chính sách quốc gia của
Ngân hàng thế giới và sử dụng các ngưỡng chỉ số khác nhau để biểu thị cho gánh
nặng nợ. Các ngưỡng được đưa ra tùy thuộc vào hiệu suất chính sách của nước đó.
Các ngưỡng tương ứng với chính sách mạnh
là cao nhất, cho thấy rằng ở các quốc gia với chính sách tốt thì tích lũy nợ là
ít rủi ro hơn.
Bảng
1.4: Ngưỡng các chỉ số gánh nặng nợ phân theo hiệu suất chính sách
% Giá trị hiện
tại của nợ so với
|
% Nghĩa vụ nợ so với
|
||||
Xuất khẩu
|
GDP
|
Thu ngân sách
|
Xuất khẩu
|
Thu ngân sách
|
|
Chính sách yếu
|
100
|
30
|
200
|
15
|
18
|
Chính sách
trung bình
|
150
|
40
|
250
|
20
|
20
|
Chính sách mạnh
|
200
|
50
|
300
|
25
|
22
|
Nguồn: Ngân hàng Thế giới
1.2. Khủng hoảng nợ nước ngoài
1.2.1. Khái
niệm
1.2.1.1. Định nghĩa khủng hoảng nợ theo tổ chức xếp
hạng quốc tế
1.2.1.2. Định nghĩa khủng hoảng nợ như một khoản nợ
lớn chưa trả hết
Thứ nhất, sự gia tăng trong tổng số cổ phiếu
của nợ dài hạn (tức là lãi và gốc) của tín dụng tư nhân và chính phủ là hơn 2%
tổng số nợ nước ngoài.
Thứ hai, tổng số tiền nợ dài hạn được cơ
cấu lại trong bất cứ năm nào vượt quá 2,5% tổng số nợ nước ngoài.
Thứ ba, nếu điều kiện thứ hai được thực
hiện, nhưng đồng thời tổng số cổ phiếu của nợ giảm nhiều hơn so với tổng số tiền
nợ được cơ cấu lại, quốc gia đó không được coi là vỡ nợ, tức là giảm khoản
thanh toán chậm thấp hơn số nợ gia hạn lại. Điều kiện cuối cùng này tránh việc
phân loại khi những nước vỡ nợ đã phải trả một phần đáng kể các khoản nợ của
mình, nhưng cổ phiếu của nợ vẫn nằm trên ngưỡng cố định trong định nghĩa.
1.2.1.3. Định nghĩa toàn diện về khủng hoảng nợ
1.2.2. Các phương pháp giải quyết nợ
nước ngoài được áp dụng trên thế giới
1.2.2.1. Giải quyết nợ nước ngoài qua câu lạc bộ Paris
Các nguyên tắc và quy tắc của câu lạc bộ Paris
Các điều
khoản của câu lạc bộ Paris
Phương pháp giải quyết Evian
1.2.2.2. Giải quyết nợ thông qua câu lạc bộ London
Nước vay nợ phát hành trái phiếu mới để
đổi lấy nợ cũ với mức chiết khấu so với mệnh giá nợ và thường theo lãi suất thị
trường. Điều này có nghĩa là giá trị nợ cũ được đổi thành giá trị nhỏ hơn của
trái phiếu mới (chuyển đổi nợ thành nợ) phần chênh lệch do chiết khấu là phần nợ
được giảm ngay lập tức, thời gian của khoản vay cũng được kéo dài (như gia hạn
nợ) theo thời hạn trái phiếu, thường là 30, 25, 20 hoặc 17 năm (có thể có kỳ ân
hạn từ 5-20 năm tùy từng loại trái phiếu). Có điều kiện đi kèm là trái phiếu mới
phát hành phải được bảo đảm thế chấp bằng trái phiếu Coupon Zero. Phương pháp
này được sử dụng ở nhiều nước song cũng không ít hạn chế với các nước
nghèo
đang gặp khó khăn kinh tế vì trái phiếu các nước này ít hấp dẫn, lượng phát
hành không lớn, không có thế chấp đảm bảo.
Chuyển nợ nước nước ngoài thành cổ phần
bằng tiền địa phương tại một xí nghiệp trong nước. Nhà đầu tư (có thể là một
ngân hàng hay một công ty) mua nợ với chiết khấu trên thị trường cấp hai. Khoản
tiền này được ngân hàng trung ương của nước vay nợ dùng các công cụ tiền trong
nước mua lại với mức giá chiết khấu thấp hơn để sử dụng trong việc đầu tư cổ phần
trong các xí nghiệp tư nhân mới. Hình thức này giảm tổng số nợ nước ngoài xuống
và khuyến khích việc chuyển về nước nguồn vốn trước đây đã đi ra nước ngoài.
Chi-lê là nước đầu tiên áp dụng hình thức này vào năm 1955. Chuyển đổi nợ thành cổ phần
đầu tư là hình thức chuyển đổi nợ quan trọng nhất. Tổng số 42 tỷ USD nợ ngân
hàng của 13 nước cho vay đã được chuyển thành cổ phần đầu tư kể từ năm 1984.
Tuy nhiên tốc độ chuyển đổi nợ này đã giảm trong những gần đây vì chiết khấu
trên thị trường cấp hai thấp và khó khăn trong việc kiểm soát có hiệu quả đối với
các áp lực lạm phát.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)