Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016

Chông chênh tuổi 23.
Uh, vậy là đã ra trường được 1 năm. Hôm nay chia tay một chị trong phòng chuyển sang BIDV làm. Hỏi thăm mới biết chị được lên band 6, được lương cao gấp 2,5 ở TCB. Khâm phục chị lắm.
Đã 23 tuổi rồi mà tôi cảm giác như mình đang đứng giữa ngã tư đường trong bể đời rộng mênh mông.
Đang băn khoăn không biết có nên học tiếp cao học hay đi học lấy chứng chỉ nghề nghiệp.
Không biết liệu nên về quê hay ở lại đất Hà Nội, chật chội, bon chen, thỉnh thoảng vô tình này,

Không biết rồi cuộc đời tôi sẽ đi đâu, về đâu nhỉ

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

Không ngừng ước mơ.
hic. Hôm nay ngày 14/10 phòng mình nhận báo cáo kiểm soát sau. tên mình sáng nhất báo cáo, không hiểu do cẩu thả, hay do quá nhiều chứng từ làm mình không thể cover hết được các lỗi nữa. và cũng chắc do một phần là chán công việc. vì ngày nào cũng như ngày làm. đi làm như một con robot (mọi người hay nói đùa với nhau phòng mình là công nhân kế toán. Ừ kể ra cũng phải công việc chỉ có vậy thôi mà, chẳng cần nhiều đầu óc để suy tính, đến cả một anh không có hiểu biết gì về kế toán còn ít lỗi hơn mình. Vậy đấy. Kể ra cũng tự khâm phục mình thật, đi làm công việc này được hơn 1 năm rưỡi rồi đấy. Một công việc nhàm chán, không đem lại được nhiều cho bản thân. Vì sao mà mình theo công việc này lâu vậy nhỉ? vì nhát gan, ko dám làm đơn xin thôi việc? vì sợ bố mẹ, họ hàng làm xóm la mắng? Vì cái gì đây. Cái câu hỏi mà ngày nào mình cũng hỏi bản thân mà vẫn chưa đưa được ra câu trả lời. Có chị tốt bụng phòng bên bảo mày giỏi tiếng anh thế sao không ở nhà cày tiếng anh rồi xin học bổng đi du học. tại sao? Tại sao em không dám làm vậy?
Chiều tối cùng các chị trong phòng đi thử áo dài một chị trong phòng thông báo chị đã đỗ vị trí quản lý chi phí của BIDV. hic. mừng cho chị ấy lắm. chị là một người cố gắng không ngừng nghỉ, niềm hi vọng chưa bao giờ tắt trong con người chị ấy. chị thi nhiều lần, trượt nhiều lần nhưng chị vẫn thi lại. kHông như mình mới trượt 1 lần đã nản. chắc vì đi phỏng vấn nhiều nên chị cũng có nhiều kinh nghiệm. Từ ngày làm TCB mình không có nhiều cơ hội đi phỏng vấn ở bên ngoài cũng chẳng có thời gian ôn luyện. Em khâm phục chị thật đấy chị Huế Đỗ ạ. Nhận được tin chị đỗ BIDV mà em thấy mình tủi thân quá. Có phải em quá hèn nhát không?
Em có kể cho các chị nghe chị đi thi nhiều mà cũng trượt nhiều lắm. các chị ấy bĩu môi: "con đấy nó thì đi đâu được. " Hic. vậy mà chị đi được rồi đấy, được sang hẳn 1 ngân hàng to hơn, chế độ tốt hơn gấp vạn lần.
Có lần em nói với chị: Chị không nản à.
chị trả lời: chị không, bạn chị nhiều đứa đỗ, tại sao chị lại không.
Ừ nhỉ, chắc có lẽ từ trước đến giờ em giống ếch ngồi đáy giếng, bao vây bởi những người luôn thỏa mãn với những gì mình đã có nên vậy đấy.
Thực sự hôm nay em cảm thấy mông lung về con đường sắp tới của mình quá. không biết đi về đâu đây. đã ra trường hơn 1 năm rồi mà vẫn chưa có định hướng gì về tương lai của mình. Còn chị, chị có công việc ổn định, có chồng, có nhà ở Hà Nội rồi. Còn em, e chưa có gì cả. Em chỉ giống chị ra trường là vào TCB làm, và chưa từng một lần được khác biệt, được sống đúng nghĩa.

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2016

Bài 1. Chủ ngữ và động từ Level 400-600

I. Basic Grammar
- Chủ ngữ và động từ là 2 thành phần chủ yếu của câu. Một câu hoàn chỉnh bắt buộc phải có 1 chủ ngữ và 1 động từ chính.
The plane / takes off. (O)
Subject        Verb

Document / confidential.(X)
Subject          Adj

- Vị trí của chủ ngữ và động từ: Chủ ngữ thường đứng ở đầu câu, động từ thường đứng sau chủ ngữ của nó.

II. Chủ ngữ
Chủ ngữ có thể là : Nouns (Danh từ), Pronoun( Đại từ), Gerund (V-ing), To-infinitives hoặc Noun clause (Mênh đề danh từ)
Example:
Noun:       Stocks became worthless.
Pronoun:  They were my student.
Gerund:    Teaching people is my passion.
To-infinitives:   To pass the exam is necessary.
Noun clause:    That he will come is certain.

Note: Verbs and Adjectives không thể là chủ ngữ trong câu.
III. Động từ
Danh từ, To-infinitive, gerunds, Nouns và adjectives không thể đứng ở vị trí của động từ trong câu.
Example:
I (to commute, commune) to the company by bus.
 to-infinitive (x) Verb(O)
They (organization, organize) this training course for new employees.
          Noun (x)       Verb(O)



Khái niệm về nợ nước ngoài


1.1.1. Khái niệm              

Vốn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của mỗi nước. Các nước muốn phát triển nhanh đều phải dựa vào các nguồn vốn đầu tư cho phát triển bao gồm vốn trong  nước và vốn nước ngoài. Vốn trong nước được huy động từ nội lực của nền kinh tế. Nếu vốn trong nước không đủ phải huy động vốn  nước ngoài. Nợ nước ngoài là một phần trong vốn nước ngoài.
Theo khoản 8 điều 2 quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm theo Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ) quy định: “ Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ nợ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoài của Việt Nam. Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân”.
Theo tài liệu tập huấn do Bộ tài chính và Học viện đào tạo khu vực của IMF Singapore tài trợ, các chính sách và lập trình tài chính, “tổng nợ nước ngoài là tổng khối lượng tài sản nợ (tính theo giá hiện tại) cam kết đối với những người không cư trú. Cam kết ở đây được hiểu là nghĩa vụ cam kết đối với các khoản nợ ngắn hạn, dài hạn đã được giải ngân của trái phiếu và tín dụng thương mại (kể cả nợ gốc lẫn lãi)”. Theo quan niệm này, nợ nước ngoài là nợ của những người cư trú đối với người không cư trú, không phân biệt loại tiền tệ, không phân biệt thời hạn.


Theo tám tổ chức nghiên cứu thống kê nợ nước ngoài gồm Ngân hàng Thanh toán quốc tế, Ban thư ký Khối thịnh vượng chung, Tổ chức thống kê Châu Âu, Quỹ tiến tệ quốc tế, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, Ban thư ký câu lạc bộ Paris, Hội nghị về Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc, nợ nước ngoài được thống nhất định nghĩa theo IMF (External Debt Statistics guild for complier and users): “Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào, là tổng của các nghĩa vụ nợ tại thời điểm đó, không bao gồm các nghĩa vụ nợ dự phòng, đòi hỏi người đi vay phải thanh toán nợ gốc có hay không có lãi trong tương lai và các khoản nợ này là nợ của người cư trú và người không cư trú trong quốc gia. Như vậy, theo định nghĩa được quốc tế được thừa nhận rộng răi này, nợ nước ngoài của một nước là tất cả khoản nợ nước đó với nước ngoài, bất kể người đi vay là Chính phủ, các tổ chức của Chính phủ hay các doanh nghiệp tư nhân. Các chủ nợ có thể là các tổ chức quốc tế, Chính phủ, các tổ chức thuộc chính phủ hoặc các cá nhân nước ngoài.

Lý thuyết về nợ nước ngoài và khủng hoảng nợ nước ngoài


1.1. Khái quát về nợ nước ngoài

1.1.1. Khái niệm              

Vốn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của mỗi nước. Các nước muốn phát triển nhanh đều phải dựa vào các nguồn vốn đầu tư cho phát triển bao gồm vốn trong  nước và vốn nước ngoài. Vốn trong nước được huy động từ nội lực của nền kinh tế. Nếu vốn trong nước không đủ phải huy động vốn  nước ngoài. Nợ nước ngoài là một phần trong vốn nước ngoài.
Theo khoản 8 điều 2 quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm theo Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ) quy định: “ Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ nợ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoài của Việt Nam. Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân”.
Theo tài liệu tập huấn do Bộ tài chính và Học viện đào tạo khu vực của IMF Singapore tài trợ, các chính sách và lập trình tài chính, “tổng nợ nước ngoài là tổng khối lượng tài sản nợ (tính theo giá hiện tại) cam kết đối với những người không cư trú. Cam kết ở đây được hiểu là nghĩa vụ cam kết đối với các khoản nợ ngắn hạn, dài hạn đã được giải ngân của trái phiếu và tín dụng thương mại (kể cả nợ gốc lẫn lãi)”. Theo quan niệm này, nợ nước ngoài là nợ của những người cư trú đối với người không cư trú, không phân biệt loại tiền tệ, không phân biệt thời hạn.
Theo tám tổ chức nghiên cứu thống kê nợ nước ngoài gồm Ngân hàng Thanh toán quốc tế, Ban thư ký Khối thịnh vượng chung, Tổ chức thống kê Châu Âu, Quỹ tiến tệ quốc tế, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, Ban thư ký câu lạc bộ Paris, Hội nghị về Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc, nợ nước ngoài được thống nhất định nghĩa theo IMF (External Debt Statistics guild for complier and users): “Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào, là tổng của các nghĩa vụ nợ tại thời điểm đó, không bao gồm các nghĩa vụ nợ dự phòng, đòi hỏi người đi vay phải thanh toán nợ gốc có hay không có lãi trong tương lai và các khoản nợ này là nợ của người cư trú và người không cư trú trong quốc gia. Như vậy, theo định nghĩa được quốc tế được thừa nhận rộng răi này, nợ nước ngoài của một nước là tất cả khoản nợ nước đó với nước ngoài, bất kể người đi vay là Chính phủ, các tổ chức của Chính phủ hay các doanh nghiệp tư nhân. Các chủ nợ có thể là các tổ chức quốc tế, Chính phủ, các tổ chức thuộc chính phủ hoặc các cá nhân nước ngoài.

1.1.2. Vai trò của nợ nước ngoài

1.1.2.1. Đối với nước vay nợ

·        Đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư
Vốn vay nước ngoài đóng vai trò là một nguồn bổ sung cho nguồn vốn phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia đặc biệt với các nước đang phát triển luôn trong tình trạng thiếu thốn về vốn. Với việc đi vay nước ngoài, một quốc gia có cơ hội đầu tư phát triển ở mức cao hơn. Tuy nhiên, việc vay nợ nước ngoài chỉ có thể có hiệu lực nếu bản thân nó đảm bảo không ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiêu dùng của thế hệ tương lai.
·        Nợ nước ngoài góp phần chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý
Bên cạnh nguồn vốn tự có để nhập khẩu máy móc thiết bị kèm theo chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý, việc vay vốn nước ngoài bổ sung thêm nguồn lực để nhập khẩu các máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến cùng với kỹ năng quản lý tiên tiến từ nước ngoài. Các dự án góp phần hiện đại hóa nhiều ngành, lĩnh vực, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác chuyển đổi theo. Các dự án hợp tác đào tạo cũng tạo ra rất nhiều cơ hội đào tạo và đào tạo nâng cao cho lực lượng cán bộ chủ chốt của các ngành địa phương, góp phần nâng cao năng lực quản lý của toàn bộ nền kinh tế xã hội.
·        Ổn định tiêu dùng trong nước
Khi có những “cơn sốt” đột ngột giáng vào nền kinh tế, sản lượng bị thiếu hụt nặng nề, tiêu dùng trong nước suy giảm nghiêm trọng. Ví dụ như ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính hay thiên tai bất ngờ làm cho nền kinh tế kiệt quệ. Trong những trường hợp như vậy, bên cạnh các khoản viện trợ quốc tế thì vay nợ nước ngoài đóng vai trò là biện pháp góp phần ổn định tiêu dùng trong nước trong ngắn hạn, trong khi nền kinh tế dần được phục hồi.
·        Bù đắp cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán của một nước có thể tạm thời bị thâm hụt do nhiều nguyên nhân bất lợi trong thương mại quốc tế như giá hàng hóa xuất khẩu giảm, nước ngoài áp dụng các biện pháp thuế quan và phi thuế quan đối với các mặt hàng nhập khẩu…. Khi đó, quốc gia thâm hụt cán cân thanh toán có thể sử dụng biện pháp vay nợ nước ngoài để bù đắp phần thâm hụt này. Tuy nhiên, giải pháp này thường có rủi ro cao, vì không có gì chắc chắn rằng các nước đi vay sẽ có được thu nhập khá hơn khi đến hạn phải trả nợ.

1.1.2.2. Đối với nước cho vay và quốc tế

Nợ nước ngoài có vai trò quan trọng không chỉ đối với nước đi vay mà còn cả đối với nước cho vay.
·        Xuất khẩu vốn nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn
Nhờ có hoạt động cho vay nước ngoài mà các nhà đầu tư tìm được nơi đầu tư thích hợp, thu được lợi nhuận cao nhất. Tránh được hiện tượng tồn đọng, dư thừa vốn.
·        Giảm thiểu  rủi ro cho các nhà đầu tư
Cho vay nước ngoài giúp nước cho vay đa dạng hóa các khoản vay của mình, tránh hiện tượng “bỏ trứng vào cùng một rổ” do đó giảm thiểu được rủi ro cho nước cho vay.
·        Nâng cao vị thế kinh tế chính trị của nước cho vay trên trường quốc tế, thúc đẩy
xuất khẩu hàng hóa
Các khoản cho vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có thể có điều khoản ràng buộc nhất định, điều kiện này tùy thuộc vào quy định của từng nước cho vay. Đó là các điều kiện về thương mại và chính trị. Xu hướng hiện nay các ràng buộc về chính trị giảm dần, chủ yếu là các ràng buộc về thương mại như để nhận được khoản vay ODA thì nước tiếp nhận phải nhập khẩu hàng hóa của nước cho vay ở một số lượng nhất định. Các nước giàu khi viện trợ ODA thường gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác cho họ: phải dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và nhập khẩu hàng hóa nước cho vay.
·        Giúp nước cho vay đạt được một số mục đích khác như chính trị, quân sự,…

 

1.1.3. Phân loại nợ nước ngoài

Tùy theo mục đích, cách thức quản lý cũng như cách thức sử dụng mà có thể phân loại nợ theo các tiêu chí khác nhau.

1.1.3.1 Căn cứ vào thời hạn khoản vay

v Vay ngắn hạn
Là khoản vay có thời hạn dưới một năm. Vì thời gian đáo hạn ngắn, khối lượng thường không đáng kể, nợ ngắn hạn thường không thuộc đối tượng quản lý một cách chặt chẽ như nợ dài hạn. Tuy nhiên, những khoản nợ ngắn hạn có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình thanh khoản của quốc gia và có khả năng gây ra khủng hoảng kinh tế. Do vậy, cần phải điều chỉnh nợ ngắn hạn phù hợp để giảm bớt áp lực thanh toán và những tác động tiêu cực lên nền kinh tế khi có sự rút lui đột ngột của các luồng vốn ngắn hạn.
v Vay dài hạn
 Là khoản vay có thời hạn đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã gia hạn kéo dài trên một năm tính từ ngày ký kết vay nợ đến hạn khoản thanh toán cuối cùng. Nợ dài hạn được quản lý nhiều hơn do đây là khoản nợ với khối lượng lớn do đó nó có khả năng tác động lớn đến nền tài chính quốc gia.

1.1.3.2. Căn cứ vào chủ thể đi vay

v Nợ chính thức (nợ khu vực công)
Bao gồm nợ của các tổ chức nhà nước và nợ của cơ quan hành chính tỉnh, thành phố. Ngoài ra còn có các khoản nợ của khu vực tư nhân do nhà nước hoặc tổ chức chính thức bảo lãnh cũng được coi là chính thức vì chính phủ của nước đi vay sẽ chịu trách nhiệm trả trả vốn và lãi cho nước cho vay trong trường hợp tổ chức đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng.
v Nợ tư nhân (khu vực tư)
 Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân là nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thuộc khu vực tư nhân. Nợ tư nhân thường là nợ trên thị trường trái phiếu, nợ ngân hàng thương mại và nợ các tư nhân khác.

1.1.3.3. Căn cứ theo loại hình vay

v Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Theo định nghĩa của tổ chức hợp tác Kinh tế và Phát triển, hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các chuyển khoản song phương hoặc đa phương trong đó ít nhất 25% là cho không.
Tính ưu đãi của vay hỗ trợ phát triển chính thức: Vay hỗ trợ phát triển chính thức là loại nợ có nhiều điều kiện ưu đãi, ưu đãi về lãi suất, về thời gian trả nợ và thời gian ân hạn. Lãi suất của vay hỗ trợ phát triển chính thức thấp hơn nhiều so với vay thương mại. Thời gian cho vay hỗ trợ phát triển chính thức dài (có thể từ 10, 15 hay 20 năm) và thời gian ân hạn dài, do vậy các nước đang phát triển thường hướng tới và tận dụng tối đa nguồn vốn này cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Tuy nhiên, vay hỗ trợ phát triển chính thức cũng có những mặt trái của nó. Tính ưu đãi của vay hỗ trợ phát triển chính thức rất rõ rệt nên việc vay hỗ trợ phát triển chính thức đôi khi kèm theo các điều kiện ràng buộc.
v Vay thương mại
 Vay thương mại không có ưu đãi cả về lãi suất và thời gian ân hạn, lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trường tài chính quốc tế và thường thay đổi theo lãi suất thị trường. Chính vì vậy, vay thương mại thường có lãi suất khá cao và chứa đựng nhiều rủi ro. Vay thương mại của chính phủ phải được cân nhắc hết sức thận trọng và chỉ quyết định vay khi không còn cách nào khác.

1.1.3.4. Phân loại nợ theo chủ thể cho vay

v Nợ đa phương
Chủ yếu đến từ các cơ quan của Liên hiệp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, các ngân hàng phát triển trong khu vực, các cơ quan đa phương như OPEC và liên chính phủ. Nợ đa phương thường được ưu tiên trả trước vì các tổ chức đa phương cho vay với lãi suất thấp hơn các ngân hàng thương mại. Nếu nợ của các tổ chức tài chính quốc tế mà không trả được thì không còn bất cứ tổ chức chính thức nào cho vay nữa.
v Nợ song phương
 Đến từ Chính phủ một nước như các nước thuộc tổ chức OECD và các nước khác hoặc đến từ một tổ chức quốc tế nhân danh một chính phủ duy nhất dưới dạng hỗ trợ tài chính, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật.

1.1.4. Chu trình nợ nước ngoài

Các nước vay nợ thường phải trải qua những giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển, trong đó nợ nước ngoài được tích tụ, tăng dần trong thời gian đầu và giảm dần khi tiết kiệm trong nước tăng và có tích lũy. Với chiến lược phát triển kinh tế nói chung và chiến lược vay nợ nói riêng có hiệu quả, nước vay nợ dần trở thành nước cho vay nợ. Mỗi quốc gia đi vay cần nhận thức được các giai đoạn này cũng như các vấn đề và các nguy cơ tiềm ẩn trong mỗi giai đoạn để có những chiến lược và chính sách quản lý nợ phù hợp. Theo giả thuyết kinh tế học hiện đại, một nước đi vay sẽ trải qua các giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Nước vay nợ trẻ (Young debtor nation). Đặc tính nổi bật của giai đoạn này là thâm hụt cán cân thương mại. Trong thời kỳ chậm phát triển, đầu tư và chi tiêu của chính phủ thường vượt quá tiết kiệm và thuế thu được, kết quả là nền kinh tế thường xuyên thiếu hụt nguồn lực. Sự thâm hụt này thể hiện trên tài khoản vãng lai của quốc gia trong đó nhập khẩu cao hơn xuất khẩu. Trong khi đó tài khoản vốn thường xuyên dương do dòng vốn từ nước ngoài chảy vào. Nợ nước ngoài đóng vai trò là nguồn lực bù đắp cho thiếu hụt thực tế trong nước. Trong giai đoạn nước vay nợ trẻ, nợ nước ngoài có xu hướng tăng dần cùng với tiền trả lãi nợ làm tăng thêm thiếu hụt tài khoản vãng lai. Sự tích tụ nợ nước ngoài lên đến đỉnh cao khi quốc gia trở thành nước vay nợ trưởng thành.
Giai đoạn 2: Nước vay nợ trưởng thành (Mature debtor nation). Đặc điểm của thời kỳ này là thâm hụt cán cân thương mại giảm xuống và bắt đầu có chút dư thừa do công nghiệp xuất khẩu trong  nước đạt được những thành tựu nhất định . Dòng vốn vay nước ngoài tăng chậm dần, tuy nhiên lượng nợ nước ngoài tích tụ lại khá lớn cùng với nợ là dòng tiền trả lãi nợ hàng năm cũng lớn.
Giai đoạn 3: Trả nợ (Debt repayment nation). Giai đoạn này nước đi vay có tiết kiệm trong nước cao hơn đầu tư trong nước cộng với lãi nợ phải thanh toán. Dư thừa nguồn lực trong nước thể hiện bằng dư thừa trên tài khoản vãng lai, xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Nước đi vay bắt đầu trả nợ gốc, thể hiện bằng dòng vốn chảy ra nước ngoài trên tài khoản vốn, đồng thời dòng tiền trả lãi nợ giảm đi. Lượng nợ nước ngoài giảm dần trong giai đoạn này.
Giai đoạn 4: Nước cho vay nợ trẻ (Young creditor nation). Đặc điểm của giai đoạn này là thặng dư tài khoản vãng lai tăng cao, nợ nước ngoài đã được trả hết và bắt đầu trở thành một nước cho vay với sự mở rộng của các khoản đầu tư ra nước ngoài. Tài khoản vốn bắt đầu thâm hụt.

Giai đoạn 5: Nước cho vay trưởng thành (Mature creditor nation). Đặc điểm của giai đoạn này là sự tích tụ của tài sản ở nước ngoài và thặng dư thu nhập tăng cao. Phần thặng dư được chuyển sang tiêu dùng. Sự già hóa dân số và mức lương cao làm giảm tính cạnh tranh quốc gia kết quả là cán cân thương mại bắt đầu xấu đi. Tuy nhiên, quốc gia vẫn duy trì thăng dư cán cân tổng thể do thặng dư thu nhập lớn.
Giai đoạn 6: Nước thanh lý tài sản (Asset liquidation nation). Đặc điểm của giai đoạn này là tiêu dùng tăng đến quy mô vượt mức thặng dư thu nhập và tài khoản vãng lai bắt đầu thâm hụt. Dòng vốn chảy vào để bù đắp những thâm hụt này, nợ nước ngoài tăng trong khi tài sản ở nước ngoài bị thu hẹp.
Bảng1.1: Tóm tắt đặc điểm của các giai đoạn trong chu trình nợ nước ngoài
Giai đoạn
Tên giai đoạn
Cán cân thương mại
Tài khoản vãng lai
Tài khoản vốn
Lương thực tế
Tính cạnh tranh
Lãi suất thực tế
Nội tệ so với chỉ số Big Mac
Lạm phát so với các quốc gia khác
1
Nước vay nợ trẻ
Thâm hụt
Thâm hụt
Đi vay
Thấp
Đang tăng
Rất cao
Định giá thấp
Cao
2
Nước vay nợ trưởng thành
Thặng dư
Thâm hụt
Đi vay
Thấp
Đang tăng
Cao
Định giá thấp
Trung bình
3
Trả nợ
Thặng dư
Thặng dư
Cho vay
Đang tăng
Đang tăng
Trung bình
Trung lập
Thấp
4
Nước cho vay nợ trẻ
Thặng dư
Thặng dư
Cho vay
Đang tăng
Cao
Rất thấp
Định giá cao
Rất thấp
5
Nước cho vay nợ trưởng thành
Thâm hụt
Thặng dư
Cho vay
Cao
Đang giảm
Thấp
Định giá quá cao
Thấp
6
Nước thanh lý tài sản
Thâm hụt
Thâm hụt
Đi vay
Cao
Đang giảm
Thấp
Định giá quá cao
Trung bình
7
Quay lại giai đoạn 1
Thâm hụt
Thâm hụt
Đi vay
Đang giảm
Đang tăng
Thấp
Định giá thấp
Thấp
Từ bảng trên, đối chiếu với số liệu thực tế của Việt Nam, ta thấy trước năm 2012, Việt Nam thuộc giai đoạn Nước vay nợ trẻ, nhưng năm 2012 và năm 2013, nước ta có xu hướng chuyển sang giai đoạn Nước vay nợ trưởng thành do cán cân thương mại trong hai năm này thặng dư đồng thời lạm phát đã được kiềm chế 6.81% năm 2012 và 6.04% năm 2013. Điều này được nhóm tác giả phân tích rõ hơn trong mục 2.1.

1.1.5. Đánh giá nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế

1.1.5.1. Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài

Dựa trên tầm quan trọng của vấn đề quản lý nợ nước ngoài trong việc xây dựng chính sách phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, hệ thống các chỉ số đánh giá nợ nước ngoài đưa ra nhằm xác định mức độ nghiêm trọng của nợ nước ngoài đối với an ninh tài chính quốc gia.
*     Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nước ngoài
·                                Khả năng hoàn trả nợ vay nước ngoài
Xuất khẩu là một hoạt động quan trọng trong bất cứ nền kinh tế nào vào thời điểm mà hội nhập quốc tế là xu hướng chủ đạo như ngày nay. Xuất khẩu cũng chính là hoạt động đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn trực tiếp và thường xuyên cho đất nước. Do vậy để đánh giá khả năng hoàn trả nợ nước ngoài người ta sử dụng tỷ lệ nợ nước ngoài trên tổng kim ngạch xuất khẩu
Chỉ tiêu trên nhỏ hơn 1, tức là tổng nợ nước ngoài < tổng kim ngạch xuất khẩu, nước này hoàn toàn có đủ khả năng để trả nợ nước ngoài. Chỉ tiêu trên lớn hơn 1, tức là tổng nợ nước ngoài > tổng kim ngạch xuất khẩu, khả năng nước này không hoàn trả được nợ tương đối cao. Tuy nhiên không nên ỷ lại quá mức vào nguồn thu từ xuất khẩu vì thị trường xuất khẩu thường xuyên biến động, phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh tế chính trị của nước đối tác, nhất là đối với các nước đang phát triển phụ thuộc vào xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế với giá cả bấp bênh.
·                                Chỉ số nợ nước ngoài so với tổng sản phẩm quốc nội
Nợ nước ngoài trên GDP được đo bằng tỷ số phần trăm giữa tổng nợ trong nước và tổng sản phẩm trong nước hàng năm.
Nợ nước ngoài trên GDP là chỉ số tổng hợp nhất đánh giá mức độ nợ nước ngoài của một quốc gia. Nợ nước ngoài trên GDP biểu diễn mối tương quan giữa tổng nợ nước ngoài so với năng lực tạo ra nguồn thu nhập để trả nợ ở trong nước.

Theo công thức đơn giản trên, nợ nước ngoài trên GDP trong một giai đoạn nhất định sẽ phụ thuộc và tốc độ tăng của nợ nước ngoài, tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế (đo bằng đồng tiền giá so sánh) và biến động của tỷ giá hối đoái thực tế. Tỷ số này càng nhỏ thì mức độ nợ nước ngoài của nước này thấp. Ngược lại, tỷ số này càng cao thì mức độ nợ nước ngoài của nước này càng nghiêm trọng. Tuy nhiên, các nước đang phát triển thường đánh giá cao đồng nội tệ hoặc sử dụng chế độ đa tỷ giá dẫn tới làm giảm tình trạng trầm trọng của nợ khiến cho việc sử dụng chỉ tiêu trên không đánh giá đúng mức tình trạng nợ.
·                                Tỷ lệ trả nợ
Như phần trên đã giải thích xuất khẩu là nguồn thu ngoại tệ trực tiếp và thường xuyên cho đất nước. Do đó để nói lên tỷ lệ trả nợ các tổ chức quốc tế sử dụng tỷ lệ giữa nghĩa vụ nợ và kim ngạch xuất khẩu.

Nghĩa vụ nợ là số tiền cả gốc và lãi được yêu cầu phải trả trong một thời gian nhất định. Tiêu chí này phản ánh quan hệ giữa nghĩa vụ nợ phải trả so với năng lực xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của quốc gia đi vay. Nếu tỷ lệ trả nợ nhỏ hơn 1, thì mức độ an toàn nợ cao. Nếu tỷ lệ trả nợ cao hơn 1 thì nước này có nguy cơ không hoàn thành nghĩa vụ nợ cao.
·                                Tỷ lệ trả lãi
Một quốc gia phải thanh toán lãi với mức lãi suất được quy định trong cam kết cho vay, thông thường lãi này được trích từ thu nhập xuất khẩu. Quốc gia vay nợ trong quá khứ thì hiện tại và tương lai họ sẽ trích thu nhập xuất khẩu càng nhiều, hạn chế khối lượng ngoại tệ giành cho nhập khẩu. Tỷ lệ này càng nhỏ thì khả năng trả được lãi của quốc gia này càng cao. Ngược lại, tỷ lệ này càng cao thì khả năng không trả được nợ cao, làm tăng thêm mức độ nghiêm trọng của nợ.
·                                Tỷ lệ trả lãi so với tổng sản phẩm quốc nội

Tổng lãi phải trả so với thu nhập quốc gia phản ánh tiềm năng trả lãi của nước đi vay. Nếu tỷ lệ này nhỏ, tức là lãi phải trả chiếm một phần nhỏ trong tổng thu nhập của quốc gia nên khả năng trả được lãi vay của quốc gia này cao, ngược lại tỷ lệ này lớn thì khả năng vỡ nợ của quốc gia càng cao.

*      Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nợ nước ngoài:
Cơ cấu nợ nước ngoài chứa những thông tin quan trọng về mức độ rủi ro của việc vay nợ. Thông thường rủi ro sẽ cao khi tỷ trọng nợ ngắn hạn, nợ thương mại và nợ song phương cao. Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nợ nước ngoài gồm:
·                                Nợ ngắn hạn/ Tổng nợ
Trong tổng nợ có nợ ngắn hạn, nợ trung hạn và dài hạn. Tỷ lệ này phản ánh tỷ trọng các khoản nợ cần thanh toán trong thời gian dưới một năm trong tổng nợ. Tỷ lệ càng cao, áp lực trả nợ càng lớn. Ngược lại, tỷ lệ càng thấp thì áp lực trả nợ càng thấp.
·                                Vay hỗ trợ phát triển chính thức/ Tổng nợ
Trong tổng nợ có vay hỗ trợ phát triển chính thức và vay thương mại. Vay hỗ trợ phát triển chính thức là loại nợ có nhiều điều kiện ưu đãi, ưu đãi về lãi suất, về thời gian trả nợ và thời gian ân hạn. Lãi suất của vay hỗ trợ phát triển chính thức thấp hơn nhiều so với vay thương mại. Áp lực trả nợ thấp hơn vay thương mại. Tỷ lệ này càng cao, gánh nặng nợ nước ngoài càng nhẹ. Ngược lại, tỷ lệ này càng thấp thì gánh nặng nợ càng cao.
·                                Nợ đa phương/ Tổng nợ
Các khoản nợ đa phương thường nhằm mục đích hỗ trợ, do đó việc tăng tỷ trọng nợ đa phương trong tổng nợ nhằm phản ánh tình hình nợ nước ngoài của một nước thay đổi theo chiều hướng tốt.
*     Các chỉ tiêu đánh giá tính thanh khoản
Các chỉ tiêu này thường thể hiện khả năng trả nợ tức thời. Nói cách khác là khả năng đối phó nhanh của nền kinh tế đối với các biến động bất thường của dòng tiền vay mượn. Các chỉ tiêu đánh giá tính thanh khoản gồm có:
·                                Dự trữ quốc tế/ tổng nợ
Dự trữ quốc tế là lượng ngoại tệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quan quản lý tiền tệ nắm giữ. Ngoại hối có thể dự trữ dưới hình thức tiền mặt, số dư tài khoản tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài, các giấy tờ có giá khác của chính phủ nước ngoài, ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, vàng, kim đá quý. Tỷ lệ này phản ánh khả năng sử dụng dự trữ ngoại hối để trả nợ của ngân hàng Trung ương của một nước. Tỷ lệ càng cao thì tính thanh khoản của nợ nước ngoài cao và ngược lại.
·                                Trả nợ/ Tổng thu Ngân sách
Ngân sách nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế nước ta mà còn đối với bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới. Nguồn trả nợ cho các quốc gia chính là ngân sách nhà nước. Do vậy, tổng thu ngân sách nhà nước ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của một quốc gia. Theo tiêu chuẩn quốc tế, giới hạn an toàn là tỷ lệ trả nợ trên tổng thu ngân sách nằm trong khoảng 10-12%. Nếu vượt qua giới hạn này ngân sách một nước sẽ gặp khó khăn về trả nợ.
·                                Dự trữ quốc tế/ nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Dự trữ quốc tế có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Dự trữ ngoại hối giúp ngân hàng trung ương đối phó với những bất lợi trên thị trường ngoại hối. Đặc biệt là thời kỳ cầu về ngoại tệ tăng cao (cung về nội tệ tăng) để giữ ổn định giá trị đồng nội tệ buộc ngân hàng trung ương phải có nguồn dự trữ ngoại hối đủ mạnh. Theo tiêu chuẩn quốc tế, dự trữ quốc tế cần đạt tối tiểu ở mức 12 tuần nhập khẩu để có đủ tiềm lực can thiệp tỷ giá khi mở rộng biên độ, tiến tới thả nổi tỷ giá và tăng quy mô vay vốn nước ngoài trong giới hạn an toàn.
Ngoài ra, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và phi kinh tế khác cũng được sử dụng để đánh giá rủi ro và mức độ nợ như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng cung tiền, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ xuất khẩu trên GDP, tỷ lệ đầu tư, mức độ nhập khẩu, thâm hụt ngân sách và nhiều thước đo khác. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nhân tố biến động kinh tế thế giới cũng tác động không nhỏ đến quy mô vay nợ của một quốc gia. Khi nền kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, nguồn thu từ xuất khẩu của các quốc gia cũng bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực gây khó khăn cho việc trả các khoản vay nợ nước ngoài.

1.1.5.2. Đánh giá nợ nước ngoài theo nhóm chỉ tiêu

*      Đánh giá nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế trước năm 2005
Năm 1989, khi ngân hàng thế giới xuất bản cuốn sách về Bảng nợ của thế giới,  báo cáo hàng năm về nợ và tài chính của các nước đang phát triển. Đây là lần đầu tiên Ngân hàng này phân loại các quốc gia mắc nợ theo chiều sâu của vấn đề. Bản báo cáo này đã sử dụng 4 chỉ số để đánh giá tình trạng nợ của một nước. Đó là:
·                                Tỷ lệ Nợ/ Tổng thu nhập quốc dân
·                                Tỷ lệ nợ/ Xuất khẩu
·                                Tỷ lệ nghĩa vụ nợ kế hoạch năm tiếp theo/ Xuất khẩu
·                                Tỷ lệ trả lãi theo kế hoạch/ Xuất khẩu
Một quốc gia được xếp vào nhóm nợ quá nhiều nếu có 3 trong 4 chỉ tiêu rơi vào mức tới hạn được tổng hợp trong bảng sau:
Bảng 1.2: Chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế
             Hệ số
Phân loại
Nợ/ Tổng thu nhập quốc dân
Nợ/ Xuất khẩu
Nghĩa vụ nợ/ xuất khẩu
Trả lãi/ Xuất khẩu
Nợ quá nhiều
> 50%
>275%
> 30%
>20%
Nợ vừa phải
30-50%
165-275%
18-30%
12-20%
Nợ ít
<30%
<165%
<18%
<12%
 Nguồn: Ngân hàng Thế giới
Bản báo cáo Bảng nợ thế giới 1989-1990 áp dụng giá trị trung bình không trọng số của mỗi hệ số của 73 quốc gia có vấn đề về nợ như là giá trị tới hạn. Tuy nhiên, đánh giá nợ trên giá trị danh nghĩa không đủ để phản ánh khả năng thanh toán thực sự  của một quốc gia cũng không cho thấy bức tranh toàn cảnh về khả năng thanh toán dịch vụ nợ của quốc gia, đặc biệt trong dài hạn. Năm 1992, với việc công bố bản báo cáo Bảng nợ thế giới 1992-1993, Ngân hàng Thế giới đã cân nhắc lại việc sử dụng hệ thống phân loại tình trạng nợ của các bản báo cáo trước đây. Theo đó, Ngân hàng Thế giới đã giới thiệu chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng của các khoản nợ như một chỉ tiêu cơ bản để phân loại các quốc gia mắc nợ.
Hai chỉ tiêu giá trị hiện tại của gánh nặng nợ được sử dụng trong bảng nợ thế giới năm 1992-1993 là nghĩa vụ nợ/ GNP và nghĩa vụ nợ/ Xuất khẩu. Ngân hàng thế giới phân loại theo các tiêu chí trong bảng sau:
Bảng 1.3: Bảng phân loại mức độ nợ theo WB

Nghĩa vụ nợ/ GNP
Nghĩa vụ nợ/ Xuất khẩu
Nợ nghiêm trọng
>80%
>220%
Nợ trung bình
48%-80%
132-220%
Nợ ít
<48%
<132%
Nguồn: Ngân hàng Thế giới

*     Đánh giá nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế sau từ năm 2005 đến nay
Nghiên cứu chung của IMF và World Bank về khung nợ bền vững (debt sustainability framework- DSF) được giới thiệu tháng 4 năm 2005 đã thiết lập một ngưỡng để hướng dẫn các quốc gia và nước viện trợ trong việc chủ động cơ cấu lại các khoản nợ. Nghiên cứu gần đây được công bố vào tháng 2 năm 2012.
Khung nợ bền vững này phân tích cả khu vực nợ nước ngoài và nợ công. Các khoản cho vay đối với các nước thu nhập thấp thay đổi một cách đáng kể về tỷ lệ lãi suất và thời gian dài của việc hoàn trả.  Khung đánh giá mà nghiên cứu này đưa ra tập trung vào giá trị hiện tại của nghĩa vụ nợ. Điều này để đảm bảo có thể so sánh được các quốc gia khác nhau và qua các thời kỳ khác nhau. Để đánh giá sự bền vững của nợ,các chỉ số gánh nặng nợ được so sánh với “ngưỡng” chỉ số trong suốt 20 năm nghiên cứu của dự án. Một chỉ số về gánh nặng nợ mà vượt quá ngưỡng cho phép, sẽ cảnh báo cho một nguy cơ khó khăn trong vấn đề hoàn trả nợ.
Có ba mức đánh giá cho nguy cơ của việc gặp khó khăn trong việc trả nợ:
·        Rủi ro thấp: khi tất cả các chỉ số này đều thấp hơn nhiều so với ngưỡng được đưa ra.
·        Rủi ro trung bình: khi các chỉ số ở sát ngưỡng đưa ra. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy rằng các ngưỡng này có bị phá vỡ nếu phải chịu cú sốc từ bên ngoài hay sự thay đổi đột ngột của các chính sách kinh tế vĩ mô.
·        Rủi ro cao: khi các quốc gia phải đối mặt với việc gặp khó khăn trong vấn đề hoàn trả nợ.
Các quốc gia thu nhập thấp với thể chế và chính sách yếu hơn có xu hướng đối mặt với vấn đề trả nợ ở mức nợ cao hơn các quốc gia có thể chế và chính sách mạnh. Do đó, nghiên cứu này phân chia các nước thành 3 nhóm theo hiệu suất của các chính sách sử dụng chỉ số đánh giá thể chế và chính sách quốc gia của Ngân hàng thế giới và sử dụng các ngưỡng chỉ số khác nhau để biểu thị cho gánh nặng nợ. Các ngưỡng được đưa ra tùy thuộc vào hiệu suất chính sách của nước đó. Các ngưỡng tương ứng với chính sách  mạnh là cao nhất, cho thấy rằng ở các quốc gia với chính sách tốt thì tích lũy nợ là ít rủi ro hơn.

Bảng 1.4: Ngưỡng các chỉ số gánh nặng nợ phân theo hiệu suất chính sách

% Giá trị hiện tại của nợ so với
% Nghĩa vụ nợ so với
Xuất khẩu
GDP
Thu ngân sách
Xuất khẩu
Thu ngân sách
Chính sách yếu
100
30
200
15
18
Chính sách trung bình
150
40
250
20
20
Chính sách mạnh
200
50
300
25
22

Nguồn: Ngân hàng Thế giới

 

1.2. Khủng hoảng nợ nước ngoài

1.2.1. Khái niệm


1.2.1.1. Định nghĩa khủng hoảng nợ theo tổ chức xếp hạng quốc tế


1.2.1.2. Định nghĩa khủng hoảng nợ như một khoản nợ lớn chưa trả hết

Thứ nhất, sự gia tăng trong tổng số cổ phiếu của nợ dài hạn (tức là lãi và gốc) của tín dụng tư nhân và chính phủ là hơn 2% tổng số nợ nước ngoài.
Thứ hai, tổng số tiền nợ dài hạn được cơ cấu lại trong bất cứ năm nào vượt quá 2,5% tổng số nợ nước ngoài.
Thứ ba, nếu điều kiện thứ hai được thực hiện, nhưng đồng thời tổng số cổ phiếu của nợ giảm nhiều hơn so với tổng số tiền nợ được cơ cấu lại, quốc gia đó không được coi là vỡ nợ, tức là giảm khoản thanh toán chậm thấp hơn số nợ gia hạn lại. Điều kiện cuối cùng này tránh việc phân loại khi những nước vỡ nợ đã phải trả một phần đáng kể các khoản nợ của mình, nhưng cổ phiếu của nợ vẫn nằm trên ngưỡng cố định trong định nghĩa.

1.2.1.3. Định nghĩa toàn diện về khủng hoảng nợ


1.2.2. Các phương pháp giải quyết nợ nước ngoài được áp dụng trên thế giới

1.2.2.1. Giải quyết nợ nước ngoài qua câu lạc bộ Paris


*     Các nguyên tắc và quy tắc của câu lạc bộ Paris
*      Các điều khoản của câu lạc bộ Paris

*     Phương pháp giải quyết Evian

1.2.2.2. Giải quyết nợ thông qua câu lạc bộ London


Các nước vay nợ sau khi đã ký thỏa thuận với quỹ tiền tệ quốc tế và chương trình điều chỉnh kinh tế đã giải quyết qua câu lạc Paris có thể gửi yêu cầu xử lý nợ ngân hàng qua câu lạc bộ London. Các ngân hàng chủ nợ sẽ lập ra một Ủy ban tư vấn Ngân hàng gồm 15 thành viên ngân hàng chủ nợ lớn nhất, đại diện cho tất cả các ngân hàng chủ nợ. Ủy ban sẽ cử ra một ngân hàng đứng đầu là chủ tịch câu lạc bộ, là đối tác chính trong tiếp xúc, đàm phán với nước vay nợ. Nước vay nợ cung cấp cho Ủy ban tư vấn bản đề xuất của nước vay nợ về phương án lựa chọn, áp dụng cho phần nợ được xử lý. Ủy ban tư vấn xem xét, đề nghị cử nhóm chuyên viên đến nước xin hoãn trả nợ để điều tra, đối chiếu và tổ chức đàm phán. Đàm phán không nhất thiết diễn ra ở London (thông thường họp tại trụ sở của ngân hàng đứng đầu) mà căn cứ vào đề xuất của nước vay nợ, Ủy ban tư vấn và nước vay nợ sẽ đàm phán để đạt được “thỏa thuận nguyên tắc”, thỏa thuận này sẽ được tất cả các ngân hàng chủ nợ được xử lý lần lượt ký. Thỏa thuận cũng quy định có một ngân hàng đạt được chỉ định để thu nhận các khoản thanh toán từ nước vay nợ để chia trả cho các ngân hàng chủ nợ.